Việt Nam đã phát huy tốt quyền lực mềm quốc gia, đặc biệt với sự hội nhập của Thương hiệu quốc gia Việt Nam và các thương hiệu sản phẩm hàng đầu.

Ngày 25/02/2020, Công ty Brand Finance, công ty tư vấn chiến lược và định giá thương hiệu độc lập hàng đầu thế giới, đã phối hợp với BBC Global News tổ chức Hội nghị thượng đỉnh 2021 về Quyền lực mềm toàn cầu. Hội nghị có sự tham gia của Cựu Ngoại trưởng - Cựu Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, Bà Hillary Rodham Clinton cùng nhiều diễn giả nổi tiếng khác trên thế giới và được truyền thông trên BBC Global News.

Theo Báo cáo chỉ số quyền lực mềm toàn cầu 2021, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khối ASEAN được nâng hạng trong bảng xếp hạng quyền lực mềm toàn cầu. Cụ thể, vị trí của Việt Nam cũng được cải thiện, tăng 2,5 điểm, nâng thêm 3 bậc, từ 50/60 lên 47/105 quốc gia được xếp hạng. Việt Nam được đánh giá là điểm sáng nhờ sự tăng hạng vượt bậc về thương hiệu quốc gia và những kết quả về kinh tế, xã hội đã đạt được trong năm qua.

Theo đánh giá của Brand Finance, Việt Nam đã phát huy tương đối tốt mọi khía cạnh của quyền lực mềm, đặc biệt là sự hội nhập của Thương hiệu quốc gia Việt Nam và các thương hiệu sản phẩm hàng đầu. Uy tín quốc gia của Việt Nam trong năm qua đã tăng lên phần lớn nhờ chủ trương và phản ứng nhanh nhạy của Chính phủ, đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu trong và ngoài nước cũng như sự năng động, nỗ lực của doanh nghiệp Việt Nam.

Nhân dịp này, Brand Finance cũng đã thực hiện phỏng vấn Ông Vũ Bá Phú - Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại về một số thành tựu đạt được:

Câu hỏi 1: Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng bứt phá. Xin Ông cho biết “quyền lực mềm” đóng vai trò như thế nào đối với tăng trưởng GDP và những thành công mà Việt Nam đã đạt được trong khu vực và trên thế giới?

Trả lời: 

Sức mạnh mềm Việt Nam không chỉ là sự kế thừa và phát huy nền tảng vốn có (như lịch sử dân tộc hào hùng, nền văn hiến, chính sách đối ngoại hòa bình, hòa hiếu) mà còn là sự phát triển, tận dụng cả những vị thế mới, lợi thế mới. Năm 2020, thực hiện thành công vai trò kép Chủ tịch ASEAN và thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong bối cảnh muôn vàn khó khăn là một minh chứng về vận dụng hài hòa sức mạnh mềm trong quan hệ ngoại giao đa phương – song phương của Việt Nam. Khả năng nắm bắt, năng lực khởi xướng, thúc đẩy đồng thuận về tinh thần đa phương, đoàn kết và hợp tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 và phục hồi kinh tế… đã làm cho các nước thêm tin cậy vào năng lực quốc gia trong ứng phó với các thách thức toàn cầu cũng như khả năng đóng góp của Việt Nam vào các công việc chung của khu vực và thế giới.

Không chỉ từng bước tham gia sâu rộng hơn, định hình xây dựng luật chơi ở các tổ chức quốc tế, mà Việt Nam đang vươn lên để hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện. Thành quả to lớn của việc này đó chính là việc Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187/193 quốc gia thành viên Liên Hợp quốc, hoàn thành việc đàm phán, ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, trở thành một mắt xích quan trọng trong tất cả các liên kết kinh tế khu vực và liên khu vực, đặc biệt là Hiệp định thương mại tự do CPTPP và EVFTA. Đây được coi là một trong những cú hích lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Theo đó, Việt Nam hiện là một trong 10 nền kinh tế có độ mở cửa thị trường lớn nhất thế giới với tỷ trọng xuất nhập khẩu/GDP tăng liên tục qua các năm (từ 136% năm 2010 lên xấp xỉ 200% vào năm 2019). Mặc dù năm 2020, kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 nhưng nền kinh tế vẫn tăng trưởng gần 3%, là một trong những nước hiếm hoi có tăng trưởng dương trong khu vực và trên thế giới.

Có thể nói, quyền lực mềm của Việt Nam là sự tổng hòa của nhiều yếu tố và đóng góp không nhỏ nhằm nâng cao vị thế Việt Nam hơn nữa trong khu vực và trên thế giới.

Câu hỏi 2: Thương hiệu quốc gia là một công cụ cần thiết để nâng tầm vị thế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Xin Ông cho biết Việt Nam đã đưa Thương hiệu quốc gia ra thị trường thế giới như thế nào?

Trả lời: 

Trong nền kinh tế hiện đại và không ngừng phát triển, thương hiệu sản phẩm của quốc gia nào chiếm lĩnh thị trường quốc tế càng lớn thì quốc gia đó càng hùng mạnh. Đặc biệt khi Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thì việc xây dựng thương hiệu càng có ý nghĩa và vai trò quan trọng.

Nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu đối với một quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa, Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt triển khai từ năm 2003. Đây là chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn và duy nhất của Chính phủ nhằm xây dựng, phát triển thương hiệu quốc gia thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, phát triển các thương hiệu mạnh trong nền kinh tế để quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam là quốc gia có hàng hóa, dịch vụ chất lượng, tạo dựng uy tín và nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

Là cơ quan quản lý Chương trình, Bộ Công Thương đã tích cực hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực thông qua việc tư vấn phát triển kinh doanh, thiết lập hệ thống thông tin và kiến thức cập nhật về thương hiệu. Công tác tuyên truyền, quảng bá cũng được chú trọng nhằm tăng cường sự nhận biết của công chúng, người tiêu dùng và khách hàng quốc tế về chương trình THQG và sản phẩm đạt THQG qua nhiều kênh truyền thông trong nước và quốc tế. Đồng thời, Bộ Công Thương cũng tập trung nguồn lực vào việc xây dựng và quảng bá các chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể của Việt Nam tại thị trường nước ngoài; hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp dựa trên uy tín chất lượng, quy trình sản xuất thân thiện môi trường và tính chuyên nghiệp; từ đó góp phần nâng tầm vị thế của các thương hiệu Việt trên thị trường thế giới.

Với sự hỗ trợ của Chương trình THQG, nhiều tập đoàn và doanh nghiệp Việt Nam đã ý thức được vai trò quan trọng của thương hiệu như là chìa khóa giúp gia tăng giá trị cho sản phẩm cũng như giá trị của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đã từng bước xây dựng, phát triển và quảng bá thương hiệu của mình một cách chuyên nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường trong và ngoài nước. Minh chứng là rất nhiều thương hiệu Việt đã gây được tiếng vang trên thị trường khu vực và thế giới. Có thể kể đến như Viettel - Tập đoàn Viễn thông và Công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam - top 15 nhà mạng trên thế giới về thuê bao di động và top 40 thế giới về doanh thu; Công ty cổ phần ôtô Trường Hải (Thaco) đang vươn dần lên vị trí hàng đầu trong khu vực ASEAN; Công ty TNHH nhà nước một thành viên yến sào Khánh Hòa đứng đầu khu vực châu Á về sản lượng khai thác yến; Công ty CP Sữa TH, doanh nghiệp đầu tiên có được “giấy thông hành” đi vào thị trường Trung Quốc, thị trường có lượng tiêu thụ sữa đứng thứ hai thế giới…

Có thể thấy, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã liên tục được cải thiện và hiện đang nằm trong nhóm thương hiệu mạnh, được định vị tốt trên toàn cầu.

Câu hỏi 3: Ông cho biết đại dịch COVID -19 đã tác động như thế nào đến các mối quan hệ của Việt Nam trên thế giới, gây ra những ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với quyền lực mềm của Việt Nam?

Trả lời: 

Đại dịch Covid-19 đang diễn biến rất phức tạp, khó lường gây ra nhiều tác động toàn diện, sâu rộng, đẩy nhiều quốc gia vào khủng hoảng kép về y tế và kinh tế. Tuy phải đối mặt với nhiều sóng gió, thách thức chưa từng có, song Việt Nam vẫn giữ vững được sự ổn định, kiểm soát được dịch bệnh, hoạt động đối ngoại với các nước vẫn được triển khai cả song phương và đa phương. Để có được thành công bước đầu trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, Việt Nam đã huy động được sức mạnh của cả nước, đặc biệt “sức mạnh mềm” của Việt Nam đã được phát huy đúng mức và đúng lúc. Điều này thể hiện ở:

Hình ảnh của Việt Nam được nâng tầm trong mắt bạn bè quốc tế

Với việc chuyển đổi hình thức, tăng cường trao đổi thông qua điện đàm, họp trực tuyến với lãnh đạo cấp cao của các nước, Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với các đối tác; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vai trò Chủ tịch của ASEAN 2020, của Đại Hội đồng liên Nghị viện ASEAN lần thứ 41(AIPA 41); hoàn thành việc đàm phán, ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, trở thành một mắt xích quan trọng trong tất cả các liên kết kinh tế khu vực và liên khu vực trong đó nổi bật là EVFTA, RCEP, UKVFTA và bổ trợ quan trọng cho các hiệp định thương mại tự do đã ký kết như CPTPP.

Việt Nam cũng đã chủ động triển khai Ngoại giao COVID, trong khả năng của mình nỗ lực chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và hỗ trợ vật tư y tế cần thiết cho một số nước trên thế giới. Hay câu nói "Việt Nam không bỏ ai ở lại phía sau" là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về quyền lực mềm của Việt Nam, thể hiện truyền thống tương thân, tương ái của người Việt Nam. Tinh thần nhân văn ấy còn được thể hiện ở việc những người Việt Nam ở nước ngoài được tạo điều kiện về nước điều trị hoặc phòng tránh dịch hay những người nước ngoài cảm thấy thật may mắn khi được an toàn ở Việt Nam trong giai đoạn bùng dịch. Chính mô hình chống dịch hiệu quả, cùng với tinh thần trách nhiệm và nghĩa cử cao đẹp của Việt Nam trong hợp tác quốc tế chống dịch đã được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Điểm đến an toàn cho đầu tư, thương mại và du lịch

Với những nỗ lực của Chính phủ cùng sự đồng thuận của nhân dân Việt Nam nhằm khống chế đại dịch, Việt Nam cũng trở thành một đất nước nổi tiếng về sự an toàn. Sự nổi tiếng này sẽ giúp Việt Nam thu hút dễ dàng hơn các nguồn lực của thế giới đặc biệt là thu hút đầu tư, các sự kiện và khách du lịch quốc tế. Đây cũng là cơ hội rất lớn để phát triển kinh tế.

Không những thế, Việt Nam đã thành công khi biến thách thức của đại dịch COVID-19 trở thành lợi thế để quảng bá, nâng cao hình ảnh các sản phẩm Việt Nam và thương hiệu quốc gia Việt Nam. Theo đó, đi ngược với xu hướng sụt giảm trên toàn cầu do đại dịch Covid-19, giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam đã tăng 29% so với năm 2019, từ 247 tỷ lên 319 tỷ USD, đứng vị trí thứ 33 trong top 100 thương hiệu quốc gia giá trị nhất thế giới, được đánh giá là trường hợp thăng hạng nhanh trên thế giới.

Có thể thấy, quyền lực mềm lúc này là một thứ tài sản vô cùng quý báu đã giúp Việt Nam biến thách thức thành cơ hội. Trong thời kỳ khó khăn, dịch bệnh, quyền lực mềm Việt Nam không những không bị suy yếu đi mà còn mạnh hơn bao giờ hết. Kết quả của sự đồng thuận xã hội, đoàn kết dân tộc, đồng lòng, chung sức trong cuộc chiến chống đại dịch đã giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu đề ra, đóng góp hiệu quả trên trường quốc tế. Từ đó, giúp Việt Nam nâng tầm vị thế, tạo được niềm tin trong khu vực và toàn cầu, một lần nữa khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực chủ động và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Câu hỏi 4: Mục tiêu của Việt Nam nhằm nâng cao quyền lực mềm trong 10 năm tới như thế nào?

Trả lời: 

Đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng, trở thành quốc gia có ngành công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao vào năm 2030; trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 là khát vọng Việt Nam đang hướng tới. Để phát triển ở tâm thế cao hơn, đóng vai trò lớn hơn tại khu vực và thế giới, “quyền lực mềm” sẽ càng đóng vai trò quan trọng, đòi hỏi nỗ lực và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của từng doanh nghiệp và từng người dân Việt Nam.

Trong thời gian tới để xây dựng và phát huy sức mạnh mềm của mình, trước hết, Việt Nam cần xây dựng định hướng chiến lược về phát huy sức mạnh mềm một cách bài bản, dài hạn trong thời kỳ mới, đặc biệt trong kỷ nguyên số.

Thứ hai, cần nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, thúc đẩy các ngành công nghiệp sáng tạo; từ đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Việt Nam tiếp tục khẳng định không chỉ là một mô hình thành công về đổi mới và hội nhập như trong 35 năm qua, mà hướng tới là quốc gia có năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng kết nối cao, nhạy bén với thay đổi và ứng phó kịp thời trước thách thức.

Thứ ba, tiếp tục gìn giữ, phát huy những giá trị đa dạng và phong phú của văn hóa Việt. Đồng thời, thực hiện các nghiên cứu, đánh giá của các nhà chuyên môn cũng như tham khảo rộng rãi trong quần chúng nhân dân để chọn lọc ra những yếu tố văn hóa thực sự đặc sắc, nổi trội, riêng biệt nhằm đầu tư, phát triển một cách có trọng tâm, trọng điểm để thực sự trở thành một sức mạnh mềm đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

Thứ tư, cần chú trọng, đẩy mạnh công tác ngoại giao. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình khu vực và trên thế giới có những chuyển biến sâu sắc và nhanh chóng; quá trình toàn cầu hoá làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Vì vậy, công tác ngoại giao cần chú trọng vào việc nâng cao năng lực và khẳng định vai trò “nòng cốt, dẫn dắt và hòa giải” trong các vấn đề then chốt của khu vực và quốc tế.

Thứ năm, ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để phát triển khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh kinh tế tri thức và toàn cầu hoá, Việt Nam phải tăng cường tiềm lực cho khoa học công nghệ để không chỉ cạnh tranh về sản phẩm mà còn tạo ra năng lực cạnh tranh quốc gia. Đánh giá đúng vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông trong xây dựng sức mạnh mềm của quốc gia và áp dụng công nghệ mới, sáng tạo trong sản xuất để tạo ra các sản phẩm chất lượng, có sức cạnh tranh cao.

Bên cạnh việc xây dựng, phát huy “sức mạnh mềm”, Việt Nam cũng cần tăng cường, hoàn thiện sức mạnh cứng để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, đó chính là “sức mạnh thông minh” trong thời đại mới, để nâng tầm hội nhập sâu rộng và hiệu quả, phát huy vị thế mới về địa chiến lược, địa kinh tế của đất nước./.